Home | Tin Tức | Chỉ đáp ứng cho ngành sản xuất thô và gia công

Chỉ đáp ứng cho ngành sản xuất thô và gia công

Tại hội thảo “Đổi mới công tác đào tạo nhân lực cho các khu công nghiệp (KCN) và khu chế xuất (KCX) ở Việt Nam” diễn ra vừa qua tại TPHCM, TS. Bùi Thế Đức – Phó trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, nói: Đánh giá của các chuyên gia trong và ngoài nước cũng cho rằng, chất lượng nhân lực Việt Nam thấp hơn nhiều so với các nước phát triển trong khu vực, đang mất sức cạnh tranh trên thị trường lao động. Trong khi đó, công tác đào tạo nguồn nhân lực, nhất là đội ngũ công nhân (CN) có tay nghề hiện nay còn nhiều yếu kém, chất lượng và cơ cấu nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu và nhu cầu của doanh nghiệp (DN).

Đồng hồ khí Gas

☛ Giới thiệu 5 kỹ thuật hàn hồ quang cơ bản

☛ Hướng dẫn chọn máy hàn que chuẩn

Chỉ đáp ứng cho ngành sản xuất thô, gia công

80% lao động tại KCN - KCX là lao động phổ thông
80% lao động tại KCN – KCX là lao động phổ thông

Theo các chuyên gia, nền kinh tế Việt Nam hiện nay, các ngành có tính gia công cao, sản xuất thô đang chiếm số lượng lớn và giữ vai trò chủ đạo, để thúc đẩy kinh tế phát triển, thị trường lao động cần cung cấp cho DN lực lượng lao động có tay nghề thì hiện nay thị trường đang đi theo chiều ngược lại. Cụ thể, cả nước hiện nay có hơn 300 KCN – KCX với hơn 2 triệu lao động làm việc, 80% là lao động phổ thông và 80% là lao động nhập cư. Theo TS. Bùi Thế Đức, một số tỉnh có tới 80% sinh viên ra trường làm trái nghề. Ở nhiều KCN, chỉ có khoảng 20% lao động qua đào tạo, có bằng chuyên môn kỹ thuật. Sau 5 năm (2011 – 2015), tỉ lệ tuyển sinh vào trung cấp và cao đẳng nghề chỉ đạt 53,4% kế hoạch…

Cụ thể hơn, TPHCM có 16 KCX – KCN với hơn 270.000 lao động, chủ yếu là lao động trẻ có độ tuổi từ 18 – 25 tuổi (nữ chiếm 64,5%), trong đó lao động qua đào tạo đại học, cao đẳng chỉ chiếm 7% – 8%, lao động có tay nghề 18%, còn lại là lao động phổ thông chiếm 75%. Lực lượng lao động trong các ngành dệt may, da giày cơ khí, chế biến thực phẩm, bao bì, nhựa chiếm 65,28%, điện – điện tử (14,7%), hóa chất (7,39%), thủ công mỹ nghệ (3,47%), dịch vụ (1,84%) còn lại là ngành nghề khác.

Đào tạo nhân lực hiện nay chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động

Tại Đồng Nai, ngành dệt may da giày là sử dụng đông lao động nhất với 54,5%); tiếp theo là ngành cơ khí (9%), chế biến gỗ (8%), nhựa và hóa chất (7%), điện – điện tử (6%), còn lại là các ngành công nghiệp chế biến khác… Cơ cấu trình độ tay nghề NLĐ: Trình độ cao đẳng, đại học trở lên chiếm 8%; trung cấp nghề, CN kỹ thuật là 32%; CN nghề kể cả DN đào tạo và lao động phổ thông là 60%.

Tại tỉnh Quảng Nam với 4 KCN và 26.000 lao động thì lao động ngành dệt may, da giày chiếm 88%, lao động đã tốt nghiệp THPT, chưa qua đào tạo nghề chiếm tới 52,84%, lao động có trình độ ĐH chỉ chiếm 2,73%. Tương tự, thông tin từ Trung tâm giới thiệu việc làm KCN thì năm 2015, các DN tại 6 KCN thiếu 7.000 CN nhưng tập trung vào các ngành chủ yếu như dệt may, da giày, lắp ráp điện tử, cơ khí chế tạo, gò hàn… Trong đó, CN may, CN ngành cơ khí không đáp ứng đủ cho DN. Cá biệt, tại Đà Nẵng, có những Cty mà CN ở đó phần lớn đều đã tốt nghiệp đại học, lấy bằng kỹ sư, cử nhân.

Trong khi đó, theo bản tin cập nhật thị trường lao động quý I/2016 do Bộ LĐTBXH cùng Tổng cục Thống kê công bố mới đây, cả nước có 1.072 triệu người trong độ tuổi lao động thất nghiệp. Trong số người bị thất nghiệp trên, có đến 441.100 lao động chuyên môn kỹ thuật (chiếm 41,1%). Đáng chú ý, số lượng người có trình độ đại học trở lên cũng bị thất nghiệp rất nhiều, khoảng 191.000 người; trình độ cao đẳng chuyên nghiệp gần 119.000 người. Trong khi tỉ lệ thất nghiệp của những cử nhân, thạc sĩ, lao động có chuyên môn kỹ thuật nhiều đến mức rất đáng lo ngại thì nhóm lao động không có trình độ chuyên môn kỹ thuật lại có tỉ lệ thất nghiệp rất thấp (1,75%).

“Một nền kinh tế với các DN đang cần lực lượng lao động có tay nghề để tham gia vào hoạt động sản xuất trực tiếp nhưng lại nhận được hàng trăm ngàn cử nhân, kỹ sư thì thị trường lao động đó thất bại là điều khó tránh” – ông Nguyễn Anh Tuấn – Giám đốc Cty dệt may Tuấn Anh (TPHCM), nói.

Tiền lương chưa khuyến khích NLĐ tự nâng cao tay nghề

Bên cạnh cung – cầu của thị trường lao động chưa gặp nhau, việc đào tạo nhân lực cho các KCN – KCX cũng gặp rào cản chính là tiền lương. Theo ông Mai Đức Chính – Phó Chủ tịch Tổng LĐLĐ Việt Nam, hiện nay chính sách tiền lương và BH thất nghiệp chưa khuyến khích được NLĐ nâng cao tay nghề. “Tiền lương bị “chẻ” ra nhiều khoản, gồm lương cơ bản và các khoản phụ cấp, không có sự chênh lệch mức lương giữa NLĐ đã qua đào tạo nghề và chưa qua đào tạo nghề hoặc bậc thợ. DN xây dựng thang bảng lương để đối phó, mỗi bậc thợ hơn nhau vài chục ngàn đồng mà có đến mấy chục bậc, NLĐ làm cả đời cũng không tăng lương được bao nhiêu. Nếu trước đây, qua các cuộc thi tay nghề, NLĐ đạt yêu cầu sẽ được nâng bậc lương, bậc thợ nhưng hiện nay, các phong trào thi tay nghề, luyện tay nghề đếm trên đầu ngón tay. NLĐ không có động lực để nâng cao tay nghề cho bản thân” – ông Mai Đức Chính nói.

Ông Nguyễn Hồng Minh – Tổng cục trưởng Tổng cục Dạy nghề, cho rằng: “Thực tế, vẫn còn nhiều DN chỉ muốn tuyển lao động phổ thông, không qua đào tạo nghề, một phần vì tính chất công việc của sản xuất, phần khác vì NLĐ qua đào tạo phải trả lương cao”.

Trong ý kiến tham luận tại hội thảo “Đổi mới công tác đào tạo nhân lực cho các KCN – KCX ở Việt Nam”, PGS.TS. Phạm Văn Sơn – Bộ GD&ĐT và TS. Trần Đình Châu – Hội đồng Giáo dục Quốc gia và Phát triển nhân lực cho rằng: Trong các nguyên nhân dẫn đến thiếu hụt lao động thì sự thiếu coi trọng nguồn nhân lực được xác định là nguyên nhân cốt lõi nhất. Các DN không nên chạy theo “cơn sốt ảo” về thiếu lao động mà phải đặt vấn đề là hiện nay mình đã đối xử với NLĐ như thế nào để điều chỉnh chính sách sử dụng lao động, phải có chính sách thu hút và giữ NLĐ làm việc cho DN lâu dài. Các DN cần giải quyết tốt lao động nội tại.

Nhiều ý kiến cũng cho rằng, chính việc không chăm sóc tốt cho NLĐ, trả lương thấp ở các DN khiến cho NLĐ không gắn bó lâu dài với DN. Và ngược lại, khi cho rằng, NLĐ “nhảy việc” nên DN cũng không mặn đào tạo nghề cho NLĐ. Từ kết quả của việc giảm và tăng mới lao động mà ngành BHXH theo dõi tại các tỉnh Bình Dương, Đồng Nai, TPHCM thì tỉ lệ lao động dịch chuyển gần 60% tổng số lao động, trong đó 60% lao động dịch chuyển chỉ có khoảng 20% là tăng mới, còn lại là “chuyển việc từ DN này sang DN khác”.

“Trợ cấp thất nghiệp hiện nay trả bằng 65% mức lương cơ bản đóng BHXH, không giúp NLĐ an tâm với cuộc sống để đi học nghề. Chính sách BH thất nghiệp đang đi chệch hướng khi hiện nay quỹ BH thất nghiệp chủ yếu là để chi trả trợ cấp thất nghiệp cho NLĐ mà chưa làm được công tác đào tạo để NLĐ quay trở lại thị trường lao động với một công việc tốt hơn, trình độ cao hơn” – ông Mai Đức Chính nói.

Nguồn: www.baomoi.com

Bài viết liên quan